Lịch

Vui mừng chào đón

0 khách và 0 thành viên

Thư viện

Hỗ trợ trực tuyến

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Visitors

    Flag Counter
    Gốc > Phương pháp dạy học Tiểu học >

    VẬN DỤNG LÝ THUYẾT KIẾN TẠO TRONG DẠY HỌC TOÁN Ở TIỂU HỌC

    1 Kiến to là gì?

     

    Theo quan điểm của lí thuyết kiến tạo thì HS phải là chủ thể tích cực xây dựng nên kiến thức cho bản thân mình chứ không phải chỉ thu nhận một cách thụ động từ môi trường bên ngoài. Người học không phải là một thùng rỗng để có thể rót đầy kiến thức vào đó.

     Điều quan trọng nhất là trong quá trình xây dựng kiến thức cho bản thân mình HS cần dựa trên những kiến thức hoặc kinh nghiệm đã có từ trước.

     Trong quá trình này HS vận dụng những kiến thức đã có để giải quyết một tình huống mới nảy sinh và sắp xếp kiến thức mới nhận được vào cấu trúc kiến thức hiện có (Bruner -1999). Nhấnmạnh rằng chỉ khi nào người học tạo nên mối liên hệ hữu cơ giữa kiến thức mới và cũ, sắp xếp kiến thức mới vào cấu trúc hiện có thì lúc  đó kiến thức mới sẽ có giá trị ứng dụng và không bị lãng quên.

     Quá trình kiến tạo tri thức là một quá trình vận động, phát triển và tiến hoá chứ không phải là một quá trình tĩnh tại, đứng im. Mỗi người xây dựng kiến thức cho bản thân mình một cách khác nhau,thậm chí trong cùng một hoàn cảnh như nhau nhưng mỗi người kiến tạo tri thức cho bản thânmình là không giống nhau.

     Cơ sở tâm lí học của lý thuyết kiến tạo là tâm lí học phát triển của Piaget và lí luận về "vùng phát triển gần nhất" của Vưgốtxki.

     Trong tâm lí học phát triển, Piaget đã sử dụng hai khái niệm quan trọng là đồng hoá (Assimilation) và điều ứng (Accommodation).Đồng hoá được xem là một quá trình mà người học có thể vận dụng kiến

    thức cũ để giải quyết tình huống mới và sắp xếp kiến thức mới thu nhận được vào cấu trúc kiến thức hiện có.

     Ví dụ: HS lớp 3, sau khi đã được làm quen với khái niệm về diện tích của một hình và đơn vị đo diện tích là xăng-ti-mét vuông thì có thể hiểu được thế nào là diện tích của hình chữ nhật, diện tíchcủa hình vuông, từ đó có cơ sở để tìm tòi cách tính diện tích của các hình đó.

     Còn điều ứng là quá trình, trong đó để thích nghi với những đòi hỏi đa dạng của môi trường thìngười học có thể buộc phải thay đổi câú trúc đã có, tạo ra cấu trúc mới cho phù hợp với hoàncảnh mới. Đồng hoá dẫn đến tăng trưởng các cấu trúc đã có, còn điều ứng tạo ra cấu trúc mới. Như vậy, đồng hoá làm tăng trưởng, điều ứng làm phát triển.

     Ví dụ: Trước khi làm quen với khái niệm phân số, HS đã biết rằng trong phạm vi các số tự nhiên, phép chia một số tự nhiên cho một số tự nhiên (khác 0) không phải lúc nào cũng thực hiệnđược.  Nhưng khi gặp tình huống:” Chia đều 3 cái bánh cho 4 em” thì HS nhận thấy, có thể thực hiện theo cách “chia phần” thực tế: “Chia mỗi cái bánh thành 4 phần bằng nhau rồi chia cho mỗi em một phần, tức là một phần tư cái bánh. Sau 3 lần chia bánh như thế, mỗi em được 3 phần, tức là ba phần tư cái bánh”. Nhìn dưới góc độ tính toán số học thì trên thực tế ta đã thực hiện được phép chia 3 : 4. Như thế, vấn đề đặt ra là phải thừa nhận rằng phép chia 3 : 4 có ý nghĩa và được biểu thị bởi phân số 3/4. Lúc này trong tư duy HS khái niệm phân số được chấp nhận nhưmột cấu trúc mới, tương thích với đòi hỏi  của hoàn cảnh mới.

     Theo Vưgốtxki, trong suốt quá trình phát triển của trẻ em thường xuyên diễn ra hai mức độ: trình độ hiện tại và vùng phát triển gần nhất. Trình độhiện tại là trình độ, mà ở đó các chức năng tâm lí đã đạt tới độ chín muồi, còn ở vùng phát triển gần  nhất các chức năng tâm lí đang trưởng thànhnhưng chưa chín muồi. Trong thực tiễn, trình độ hiện tại biểu hiện qua việc trẻ em độc lập giải quyết nhiệm vụ, không cần bất kì sự giúp đỡ nào từ bên ngoài, còn vùng phát triển gần nhất được thể hiện trong tình huống trẻ hoàn thành nhiệm vụ khi có sự hợp tác, giúp đỡ của người khác, mà nếu tự mình thì không thể thực hiện được. Như vậy, hai mức độ phát triển trẻ em thể hiện hai mứcđộ chín muồi ở các thời điểm khác nhau. Đồng thời chúng luôn vận động: vùng phát triển gần nhất hôm nay thì ngày mai sẽ trở thành trình độ

    hiện tại và xuất hiện vùng phát triển gần nhất mới.

     Theo Vưgốtxki, dạy học và phát triển phải gắn bó hữu cơ với nhau. Dạy học phải đi trước quá trình phát triển, tạo ra vùng phát triển gần nhất, là điềukiện bộc lộ sự phát triển. Chỉ có như vậy hoạt động dạy học mới đạt hiệu quả cao và đó mới là việc “dạy  học tốt”. Điều này đòi hỏi GV cần cungcấp những hỗ trợ ban đầu cho HS, nhưng không nên tiếp tục can thiệp sâu khi HS

    đã có khả năng làm việc độc lập. Dĩ nhiên, trong thực tiễn cần lưu ý dạy học không đi trước quá xa so với sự phát triển, nhưng dạy học không được đi sau sự phát triển.

     Ví dụ: ở lớp 3 khi học về "Phần bằng nhau của đơn vị (1/6, 1/7, 1/8, 1/9)" GVcần lần lượt tổ chức các hoạt động như sau: Ví dụ 1: Đã tô màu vào 1/6 hình nào?

     Chèn hình vẽ  Ví dụ 2: Tìm 1/7 số con mèo trong mỗi hình sau: Chèn hình vẽ  Ví dụ 3: Hãy vẽ một hình chữ nhật và tô màu 1/3 của hình đó.  Ở các ví dụ 1, 2 và 3, yêu cầu HS  thực hiện các hoạt động “nhận dạng” và “thể hiện” khái niệm ban đầu về phân số. HS dựa trên những kiến thức đã tiếp thu được từ lớp 2 có thể độc lập giải quyết nhiệm vụ đề ra. Nhưng ở ví dụ 4, GV cần giúp đỡ HS thực hiện nhiệm vụ này.Ngoài ra Vưgốtxki còn nhấn mạnh đến vai trò của văn hoá, của ngôn ngữ và các điều kiện tương  tác xã hội tác động đến việc kiến tạo nên trithức của các cá nhân, đặc biệt cần khuyến khích tăng cường tương tác giữaGV và HS, giữa HS và HS để đạt hiệu quả cao trong việc dạy và học.Tóm lại: theo quan điểm kiến tạo thì HS phải là chủ thể tích cực xây dựng nên kiến thức cho bản thân mình dựa trên những kiến thức hoặc kinh nghiệm đã có từ trước. Trong quá trình này HS sẽ sắp xếp (làm cho thích nghi) kiến thức mới nhận được vào cấu trúc hiện có để xây dựng nên hệ thống kiến thức mới.  2. Đđim cdạhọc theo lối kiến toDựa trên những luận cứ đã thảo luận ở trên, chúng ta có thể phân tích một vài nét đặc trưng của PPDH Kiến tạo; điều kiện và biện pháp thực hiện.- HS phải là chủ thể tích cực kiến tạo nên kiến thức của bản thân mìnhdựa trên tri thức hoặc kinh nghiệm có từ trước. Chỉ khi nào tạo nên mối liên hệ hữucơ giữa kiến thức mới và cũ, sắp xếp kiến thức mới vào cấu trúc (hiện có hoặc thay đổi cho phù hợp) thì quá trình học tập mới có ý nghĩa.- Quá trình kiến tạo tri thức mang tính chất cá thể, ngay trong cùng một hoàn cảnh thì  kiến tạo tri thức của mỗi HS cũng khác nhau. Vì vậy đòihỏi phải tổchức quá trình dạy học sao cho mỗi HS đều có thể phát huy tốt nhất khả năng của mình.- Cần xây dựng mụi trường học tập trong đó luôn khuyến khích HS traođổi - thảo luận, tìm tòi - phát hiện và giải quyết vấn đề.- Vai trũ của GV trong dạy học là tổ chức mụi trường học tập mang tính kiến tạo, thay vỡ cố gắng làm cho HS nắm nội dung toán học bằng giải thích, minh họa hay truyền đạt các thuật toán có sẵn và áp dụng một cáchmáy móc.

     - Mục đich của dạy học không chỉ là truyền thụ kiến thức mà chủ yếu là làm thay đổi hoặc phát triển các quan niệm của HS, qua đó HS kiến tạo kiến thức mới, đồng thời phát triển trí tuệ và nhân cách của mình.  3 Mô hình dhọc theo lối kiến toa) Với bất kì một lí thuyết dạy học nào, khi được áp dụng, người GV luôn quan tâm đến một qui trình thiết kế việc dạy học theo từng bước. Theo nhiều tác giả thì chu trình của dạy học theo lối kiến tạo bao gồm  các pha chính như sau (thể hiện trên sơ đồ):Tri thức          Dự đoán         Kiểm nghiệm (Thử  và Sai)           Điều chỉnhTri thức mới.  b) Vận dụng LTKT trong dạy học bộ môn Toán ở tiểu học đòi hỏi ngườiGV phải tiến hành hai loại công việc cơ bản sau:Thứ nhât: Tìm hiểu, thăm dò về những hiểu biết ban đầu của HS liên quan đến nội dung sắp học để trả lời câu hỏi HS có nắm được hay khôngcác kiến thức, kĩ năng đó và nắm được thì ở mức độ nào?Việc tìm hiểu này nhằm xác định xem HS đã có những kiến thức, kĩnăng cơ bản cần thiết cho việc nghiên cứu bài mới hay chưa? Trên cơ sở đó GV tiến hành ôn tập, bổ sung những kiến thức cần thiết, giúp HS thích ứng nhanh chóng với những tình huống học tập mới và GV có thể dự kiến được những hoạt động học tập thích hợp cho HS.. Đồng thời, việc làm này sẽ giúp GV xác định được rõ những kiến thức nào HS sẽ được tiếp nhận từ GV, những kiến thức nào sẽ tổ  chức cho HS tự xây dựng, tự chiếm lĩnh dưới sự hướng dẫn của GV.

    Việc tìm hiểu bước đầu này được tiến hành thông qua các bài tập hoặc các nhiệm vụ cụ thể giao về nhà cho HS chuẩn bị trước hoặc thông qua các câu hỏi trắc nghiệm, các thảo luận trực tiếp giữa GV và HS. GV có thể thiết kế các phiếu hỏi hoặc phiếu giao việc để giao cho HS thực hiện.

     Thứ hai: Xây dựng tình huống học tập; thiết kế các hoạt động củaGV và HS trong giờ học.Để giúp HS khám phá, kiến tạo tri thức, GV cần dự kiến việc tổ chức các hoạt động nhóm - thảo luận, động viên HS suy nghĩ đưa ra các câu hỏi thảo luận để tìm hiểu và giải quyết vấn đề đặt ra. GV lựa chọn những câu hỏi để khám phá trong số các câu hỏi HS nêu ra, lựa chọn những câu hỏi có liên quan đến bài học để kiến tạo tri thức cần thiết. Từ đó GV tổ chức, hướng dẫn cho HS khám phá, kiến tạo tri thức.Sau khi thảo luận, giải quyết vấn đề, các nhóm HS báo cáo kết quảtìm được của nhóm mình, đại diện mỗi nhóm lên trình bày. GV tổng kết những ý kiến trả lời của HS, cùng HS trao đổi thảo luận, so sánh kết quả

    của các nhóm và đưa ra những nhận xét, đánh giá và hợp thức hoá kết luận, bổ sung những nội dung cần thiết. Trong môi trườn học tập tương tác như vậy, dạy học theo lối kiến tạo thực sự  tạo nên một môi trường học tập hiệu quả.Tuy nhiên dạy học theo lối kiến tạo đòi hỏi GV phải bỏ nhiều công sức để tìm hiểu đối tượng HS và phải có phương pháp sư phạm tốt để điềukhiển quá trìnhhọc tập của HS.

    St 


    Nhắn tin cho tác giả
    Đỗ Khắc Hiền @ 07:17 15/01/2013
    Số lượt xem: 2930
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến